Thứ tư, 17/02/2021 | 10:24 GMT+7 - Xem: 186

Sự lãnh đạo của đảng - nhân tố quyết định thành công của đối ngoại quốc phòng

“Công tác đối ngoại quốc phòng được triển khai chủ động, tích cực với nhiều đổi mới, sáng tạo, đạt được kết quả toàn diện trên cả bình diện song phương và đa phương; trở thành một trong những trụ cột đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, ngoại giao nhân dân; góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nâng cao uy tín, vị thế của quân đội và đất nước trên trường quốc tế” (trích Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI).

Đối ngoại quốc phòng (ĐNQP) là một bộ phận của đối ngoại nhà nước, đồng thời là một mặt hoạt động của Bộ Quốc phòng, một biện pháp công tác trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc (BVTQ). Nhìn lại những thành công của ĐNQP trong thời gian qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ 2015-2020, dễ dàng nhận thấy mọi chủ trương, biện pháp và hoạt động ĐNQP luôn bám sát và vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về BVTQ. Có thể khẳng định sự lãnh đạo của Đảng chính là kim chỉ nam, là nhân tố quyết định cho thành công của ĐNQP, từ việc xác định mục tiêu, phương châm, nguyên tắc đến các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa IX về Chiến lược BVTQ tiếp tục được bổ sung, phát triển, cụ thể hóa tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI; Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII và Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược quốc phòng Việt Nam là nền tảng, cơ sở lý luận lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ quốc phòng, BVTQ trong tình hình mới, trong đó xác định mục tiêu BVTQ bao gồm: "Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN); bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc cả trong và ngoài lãnh thổ; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ nền hòa bình bền vững của đất nước; ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh và xung đột vũ trang; đẩy mạnh hợp tác và đấu tranh quốc phòng phù hợp với luật pháp quốc tế; tham gia bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới". Các nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ những mục tiêu BVTQ một cách toàn diện, cụ thể, phù hợp với hoàn cảnh chiến lược mới, là định hướng chiến lược cho nhiệm vụ BVTQ nói chung và ĐNQP nói riêng với tư cách là một mặt hoạt động, biện pháp thực hiện nhiệm vụ BVTQ. Quan điểm của Đảng về mục tiêu BVTQ còn thể hiện sự coi trọng vai trò của đối ngoại nói chung và ĐNQP nói riêng, bởi lẽ có những mục tiêu sẽ không thể thực hiện được hoặc không hiệu quả nếu không có hoạt động đối ngoại, như: "Ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh và xung đột vũ trang; hợp tác và đấu tranh quốc phòng; tham gia bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới".

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh.

Quan điểm của Đảng về mục tiêu BVTQ thể hiện trí tuệ, nhãn quan chiến lược, tư duy nhạy bén, sắc sảo của Đảng về nhiệm vụ BVTQ trong bối cảnh hợp tác-cạnh tranh, thời cơ-thách thức luôn đan xen và thường xuyên biến động, chuyển hóa lẫn nhau; chúng ta BVTQ trong điều kiện hòa bình nhưng những nguy cơ chiến tranh, xung đột, những mối đe dọa đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia-dân tộc vẫn tồn tại. Mục tiêu BVTQ do Đảng xác định chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là cái “bất biến” để có sách lược linh hoạt, khôn khéo “ứng vạn biến” trong công tác ĐNQP; bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, ĐNQP cũng phải kiên quyết, kiên trì giữ vững nguyên tắc, mục tiêu chiến lược.

ĐNQP có đặc trưng cơ bản là vừa hợp tác vừa đấu tranh, xây dựng lòng tin giữa các quốc gia, lực lượng vũ trang trong khu vực và trên toàn thế giới; kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, thực hiện kế sách tối ưu là BVTQ mà không phải tiến hành chiến tranh. Cùng với xác định các mục tiêu, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng chỉ rõ phương châm, nguyên tắc, biện pháp tiến hành nhiệm vụ BVTQ, đó là: “Kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược”(1); “Giữ trong ấm ngoài êm, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”; “Kiên quyết, kiên trì, vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở giữ vững và tuân thủ luật pháp quốc tế; thêm bạn, bớt thù; giữ cân bằng chiến lược...”(2). Đây cũng chính là phương châm, nguyên tắc và trở thành mục tiêu của ĐNQP.

Trước sự biến động của môi trường chiến lược với những đặc điểm mới, hợp tác và cạnh tranh đan xen nhau, quan điểm của Đảng về vấn đề tập hợp lực lượng đã có sự thay đổi, chuyển từ tư duy bạn-thù sang đối tác-đối tượng. Quan điểm rõ ràng, dứt khoát của Đảng về đối tác-đối tượng, hợp tác-đấu tranh và mối quan hệ biện chứng giữa chúng được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa IX, khóa XI, đã tháo gỡ được những khó khăn, lúng túng trong vấn đề tập hợp lực lượng BVTQ nói chung và công tác ĐNQP nói riêng; góp phần thúc đẩy, mở rộng quan hệ, hợp tác quốc tế về quốc phòng; nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh với âm mưu, hoạt động chống lại các mục tiêu BVTQ của ta; khắc phục được cả hai khuynh hướng đề cao mặt hợp tác mà chủ quan, mất cảnh giác, xem nhẹ mặt đấu tranh hoặc cứng nhắc, coi trọng đấu tranh mà đánh mất cơ hội, thậm chí cản trở hợp tác.

Trên cơ sở coi trọng vai trò, vị trí của ĐNQP, Đảng đã dành riêng cho nhiệm vụ này những định hướng, quan điểm, đường lối lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, cụ thể. Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược quốc phòng Việt Nam xác định: “Lấy ĐNQP làm công cụ quan trọng giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc; tạo lợi thế chính trị trong mọi biến động của tình hình, đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực”; đồng thời đề ra các nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo thực hiện công tác ĐNQP “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và ĐNQP, góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam; ngăn ngừa nguy cơ, vượt qua thử thách”. Trên cơ sở quán triệt các định hướng chiến lược của Đảng về BVTQ và đối ngoại, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 806-NQ/QUTW về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo” đề ra các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ hợp tác quốc tế và ĐNQP. Bên cạnh các chỉ thị, nghị quyết, sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ BVTQ nói chung và ĐNQP còn được thể hiện ở sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát, trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đồng chí Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương. Trong nhiệm kỳ vừa qua, có nhiều hoạt động ĐNQP liên quan đến các vấn đề nhạy cảm, hệ trọng của mục tiêu BVTQ và các vấn đề quốc tế phức tạp, Quân ủy Trung ương đều báo cáo và nhận được sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thường xuyên và trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trong những năm qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ 2015-2020, ĐNQP đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột; thúc đẩy hợp tác giải quyết các thách thức chung, thực hiện phương châm BVTQ từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, xứng đáng là một trong những trụ cột quan trọng của đối ngoại nhà nước.

ĐNQP được triển khai đồng bộ, có sự phối, kết hợp chặt chẽ với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; thúc đẩy hợp tác tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng quân đội, nâng cao hiệu quả kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao trong nhiệm vụ BVTQ; đã tham mưu cho Đảng, Nhà nước xử lý các tình huống phức tạp về quốc phòng, các vấn đề quốc tế phức tạp, nhạy cảm.

Trên bình diện song phương, ĐNQP đóng góp quan trọng vào tăng cường quan hệ hợp tác với các nước láng giềng; đẩy mạnh ĐNQP biên giới, nâng cấp giao lưu quốc phòng biên giới với Trung Quốc, Lào và Campuchia lên quy mô, tính chất và cấp chủ trì cao hơn, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội và thúc đẩy giải quyết những vấn đề về biên giới, lãnh thổ còn tồn tại với các nước. Củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống với Lào, Campuchia và Cuba phù hợp với đặc điểm tình hình mới, tôn trọng độc lập, tự chủ của bạn; đồng thời thúc đẩy quan hệ với các nước bạn bè truyền thống và mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và BVTQ cũng như lập trường, quan điểm của ta trong các vấn đề quốc phòng, an ninh của đất nước, trong đó có vấn đề Biển Đông. 

Xử lý tốt quan hệ với các nước lớn, giữ vững cân bằng chiến lược; tăng cường quan hệ, hợp tác với Trung Quốc, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi để giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hòa bình; duy trì và thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng với Mỹ và các nước lớn khác, tranh thủ nguồn lực và khoa học công nghệ trong khắc phục hậu quả chiến tranh, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp quốc phòng... nâng cao tiềm lực quốc phòng của đất nước.

ĐNQP đa phương đã có sự chuyển biến rõ rệt, chuyển mạnh từ tham gia sang tích cực, chủ động đề xuất các sáng kiến, xây dựng các thể chế hợp tác, theo tinh thần Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 8-8-2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030; tích cực, chủ động và tham gia có hiệu quả vào các cơ chế hợp tác đa phương trong khuôn khổ Liên hợp quốc (LHQ), ASEAN, nhất là ADMM, ADMM+ và các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh do ASEAN giữ vai trò trung tâm. Đẩy mạnh hợp tác huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn; hợp tác quốc tế khắc phục hậu quả chiến tranh như: Tìm kiếm thông tin, cất bốc, quy tập hài cốt cán bộ, bộ đội ta hy sinh, mất tin trong chiến tranh; huy động nguồn lực phục vụ khắc phục hậu quả chiến tranh;(3) tẩy độc sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa...; nâng cao năng lực cho lực lượng Gìn giữ hòa bình (GGHB) LHQ, hợp tác an ninh biển, cứu hộ-cứu nạn, quân y...

Tích cực, chủ động tham gia có trách nhiệm, hiệu quả vào hoạt động GGHB LHQ là một điểm sáng của ĐNQP Việt Nam trong thời gian qua, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta”(4) và hiện thực hóa một trong những mục tiêu BVTQ mà Đảng ta đã xác định, đó là “tham gia bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới”. Mặc dù mới chỉ 6 năm tham gia hoạt động GGHB LHQ nhưng Việt Nam đã để lại ấn tượng tốt đẹp đối với LHQ và bạn bè quốc tế. Đến nay, 50 lượt sĩ quan đã được cử đi thực hiện nhiệm vụ theo cương vị cá nhân tại các phái bộ ở Trung Phi, Nam Sudan và hai Bệnh viện dã chiến cấp 2 tại Nam Sudan với 126 cán bộ, nhân viên, y sĩ, bác sĩ. Việt Nam là nước có tỷ lệ nữ quân nhân tham gia hoạt động GGHB cao nhất (17%). Thời gian tới, Việt Nam tiếp tục cử quân nhân nhận nhiệm vụ ở cơ quan chiến lược tại trụ sở LHQ và các vị trí quan trọng khác, khẳng định sự tin cậy của LHQ cũng như uy tín quốc tế ngày càng cao của Việt Nam nói chung, Quân đội ta nói riêng.

Đặc biệt, thành công của Năm Chủ tịch ASEAN 2020 trên kênh quốc phòng, quân sự là một dấu son của ĐNQP. Bằng những nỗ lực vượt bậc, những biện pháp linh hoạt, sáng tạo, khắc phục những khó khăn, trở ngại do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi tất cả các nội dung, hoạt động quốc phòng, quân sự, nổi bật là thành công của ADMM-14 và ADMM+ lần thứ 7. Trên cơ sở kiên quyết, kiên trì các mục tiêu chiến lược, các vấn đề có tính nguyên tắc, linh hoạt, mềm dẻo và khéo léo từng bước dung hòa quan điểm, lập trường của các bên, thu hẹp, tiến tới hóa giải những khác biệt để đạt được đồng thuận chung, hoàn thành thắng lợi những mục tiêu đã đặt ra.

Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và là đặc trưng của ĐNQP là xây dựng, củng cố lòng tin giữa các nước. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, ta vừa phải có thực lực, vừa phải tạo được sự tin cậy từ phía đối tác. Nói về mối quan hệ giữa thế và lực với công tác đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Sự lãnh đạo của Đảng chính là nguồn sức mạnh to lớn để tạo nên thế và lực cho công tác đối ngoại nói chung, ĐNQP nói riêng; đồng thời với đường lối, chủ trương, chính sách nhất quán trước sau như một, vừa kiên quyết, kiên trì nhưng hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, thể hiện ở nguyên tắc “4 không”, đã củng cố sự tin cậy của các nước, tổ chức quốc tế đối với Việt Nam. Điều đó một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thành công của ĐNQP.

Thời gian tới, môi trường chính trị, an ninh thế giới, khu vực được dự báo tiếp tục biến động phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất ổn; sự nghiệp xây dựng và BVTQ XHCN đứng trước nhiều vận hội mới nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thử thách, đặt ra những yêu cầu mới, ngày càng cao đối với ĐNQP; đòi hỏi không ngừng củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ĐNQP. Để thực hiện được điều đó, chúng ta cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục quán triệt và vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng về nhiệm vụ đối ngoại và BVTQ, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược BVTQ trong tình hình mới; Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XI về hội nhập quốc tế; Chỉ thị số 25-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030; Nghị quyết số 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Kịp thời phổ biến, quán triệt và xây dựng kế hoạch cụ thể hóa, triển khai thực hiện các định hướng lớn của Đại hội lần thứ XIII của Đảng về quốc phòng, quân sự, đối ngoại.

Đội công binh tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc huấn luyện điều lệnh. Ảnh:MỸ HẠNH

Hai là, mọi chủ trương, nội dung, biện pháp ĐNQP phải tuân thủ và bám sát đường lối, quan điểm của Đảng về BVTQ và đối ngoại; nắm vững và tuân thủ luật pháp quốc tế, các nguyên tắc trong quan hệ quốc tế và hoạt động đối ngoại.

Ba là, kết hợp chặt chẽ ĐNQP với đối ngoại của Đảng, Nhà nước và đối ngoại nhân dân trong một thể thống nhất, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Chính phủ.

Bốn là, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân về vai trò, vị trí của đối ngoại nói chung và ĐNQP nói riêng trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ.

Năm là, tích cực đổi mới hình thức, biện pháp, nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ ĐNQP trên phương châm "tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả". Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác ĐNQP, trong đó bồi dưỡng bản lĩnh chính trị vững vàng, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân là yếu tố then chốt, quyết định.

Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, đất nước ta đã trải qua nhiều khó khăn, thử thách to lớn, có những lúc trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, tưởng chừng không vượt qua nổi. Tuy nhiên, bằng những đường lối, chủ trương, biện pháp sáng suốt, đúng đắn, Đảng đã lãnh đạo, dẫn dắt cách mạng Việt Nam vượt qua tất cả những khó khăn, thử thách ấy, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hiện nay và trong thời gian tới, nhiệm vụ BVTQ nói chung và ĐNQP nói riêng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức mới nhưng có sự lãnh đạo của Đảng, với lòng trung thành vô hạn và niềm tin sắt đá vào Đảng, công tác ĐNQP chắc chắn sẽ vượt qua khó khăn và thu được nhiều thắng lợi rực rỡ hơn nữa, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và BVTQ XHCN.

Hà Nội, tháng 12-2020

Thượng tướng NGUYỄN CHÍ VỊNH, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

(1) Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

(2) Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược quốc phòng Việt Nam.

(3) Thông qua hoạt động đối ngoại quốc phòng, ta đã vận động được 490 triệu USD cho các dự án khắc phục hậu quả dioxin; 40 triệu USD khắc phục hậu quả bom, mìn, vật liệu nổ.

(4) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, năm 2011, t5, tr.273.