Học viện Khoa học Quân sự đăng tải thông tin luận án tiến sĩ của Nghiên cứu sinh Nguyễn Công Minh.
1. Họ và tên nghiên cứu sinh: NGUYỄN CÔNG MINH
2. Giới tính: Nam
3. Ngày sinh: 16/07/1978
4. Nơi sinh: Thanh Hoá
5. Quyết định công nhận nghiên cứu sinh số: 408/QĐ-HVKHQS ngày 25/09/2022 của Giám đốc Học viện Khoa học Quân sự.
6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: Thời gian đào tạo gia hạn đến tháng 9/2026.
7. Tên đề tài luận án: Images in English and Vietnamese idioms denoting emotions: A contrastive study (Hình ảnh trong thành ngữ biểu thị cảm xúc tiếng Anh và tiếng Việt: Nghiên cứu đối chiếu)
8. Ngành: Ngôn ngữ Anh
9. Mã số: 9220201
10. Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thu Hạnh
11. Tóm tắt các kết quả mới của luận án
Luận án làm nổi bật vai trò trung tâm của hình ảnh quy ước trong việc cấu trúc và biểu đạt ý nghĩa cảm xúc của thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong các bối cảnh văn hóa khác nhau. Trên cơ sở một tập liệu được xây dựng có hệ thống, nghiên cứu đã phân tích 164 thành ngữ tiếng Anh và 173 thành ngữ tiếng Việt biểu thị niềm vui, cùng với 127 thành ngữ tiếng Anh và 159 thành ngữ tiếng Việt biểu thị nỗi buồn. Các thành ngữ này được phân loại thành những nhóm hình ảnh chính như động vật, bộ phận cơ thể, biểu cảm khuôn mặt và vận động thân thể, hiện tượng tự nhiên, thực phẩm và đồ uống, tôn giáo, vai trò và nhân vật xã hội, thời gian, sự kiện và các hình ảnh mang đậm dấu ấn văn hóa.
Kết quả nghiên cứu cho thấy cả tiếng Anh và tiếng Việt đều sử dụng những hệ thống hình ảnh phong phú, ổn định và có tính quy ước cao để biểu đạt niềm vui và nỗi buồn. Trong cả hai ngôn ngữ, các hình ảnh liên quan đến cơ thể con người, biểu cảm khuôn mặt và hiện tượng tự nhiên chiếm tỉ lệ cao nhất, cho thấy ý nghĩa cảm xúc gắn chặt với trải nghiệm thân thể và các khía cạnh quen thuộc của đời sống thường nhật. Những hình ảnh liên quan đến tim, khuôn mặt, đôi mắt, cũng như các yếu tố tự nhiên như ánh sáng, mưa hay bão, hoạt động như những nguồn biểu trưng chung trong việc biểu đạt trạng thái cảm xúc.
Đồng thời, luận án cũng chỉ ra những khác biệt văn hóa rõ nét trong sự lựa chọn và định hướng biểu trưng của hình ảnh. Thành ngữ tiếng Anh có xu hướng ưu tiên các hình ảnh mang tính trừu tượng và thể chế hóa xã hội, phản ánh sự nhấn mạnh vào cảm xúc cá nhân và trạng thái tâm lý bên trong. Ngược lại, thành ngữ tiếng Việt thể hiện sự ưa chuộng các hình ảnh cụ thể, giàu tính thân thể và gắn với đời sống xã hội, liên hệ chặt chẽ với sinh hoạt hằng ngày, quan hệ cộng đồng, gia đình và các giá trị đạo lý truyền thống.
Quan trọng hơn, luận án đã xác định những yếu tố chính góp phần tạo nên cả sự tương đồng và khác biệt trong hệ thống hình ảnh của hai ngôn ngữ. Những trải nghiệm chung của con người, tri giác thân thể và phản ứng cảm xúc phổ quát giải thích cho nhiều điểm tương đồng, trong khi các khác biệt chịu sự chi phối của giá trị văn hóa, tổ chức xã hội, bối cảnh lịch sử, hệ thống niềm tin và nếp sống thường nhật. Nhìn chung, các hình ảnh trong thành ngữ hoạt động như những ký hiệu văn hóa đã được quy ước, phản ánh đồng thời tính phổ quát của trải nghiệm cảm xúc con người và những cách thức mang tính đặc thù văn hóa trong việc khái niệm hóa cảm xúc. Luận án đóng góp cho nghiên cứu thành ngữ từ góc độ hình ảnh quy ước và mối quan hệ ngôn ngữ – văn hóa, đồng thời gợi mở những ứng dụng thực tiễn trong giảng dạy ngoại ngữ, dịch thuật và giao tiếp liên văn hóa.
12. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được ứng dụng trong giảng dạy và học tập ngoại ngữ, đặc biệt là trong việc giảng dạy thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt theo hướng gắn với tri nhận và văn hóa. Luận án cũng cung cấp cơ sở khoa học cho hoạt động dịch thuật và giao tiếp liên văn hóa, giúp người học và người dịch hiểu sâu hơn ý nghĩa biểu trưng và sắc thái văn hóa của thành ngữ, từ đó sử dụng và chuyển dịch thành ngữ một cách chính xác và hiệu quả hơn.
13. Những hướng nghiên cứu tiếp theo
Từ kết quả của luận án, có thể tiếp tục mở rộng nghiên cứu hình ảnh trong thành ngữ biểu đạt các trạng thái cảm xúc khác như giận dữ, sợ hãi, lo âu hoặc tình cảm gia đình. Ngoài ra, hướng nghiên cứu đối chiếu hình ảnh trong thành ngữ giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác, hoặc nghiên cứu hình ảnh trong các đơn vị ngôn ngữ cố định khác như tục ngữ, quán ngữ cũng là những hướng phát triển có giá trị khoa học và thực tiễn.
14. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận án
1. Nguyễn Công Minh (2025).Images in English and Vietnamese idioms of happiness and sadness: A cross-cultural perspective. Ngôn ngữ & Đời sống, 6b(369), 444-458
2. Nguyễn Công Minh (2025). Từ “trên chín tầng mây” đến “bừng sáng niềm vui”: phân tích biểu tượng niềm vui qua thành ngữ tiếng Anh. Ngôn ngữ & Đời sống, 8(371), 114-127
Thông tin luận án bằng tiếng Anh:
1. Doctoral candidate’s full name: NGUYỄN CÔNG MINH
2. Gender: Male
3. Date of birth: 16 July 1978
4. Place of birth: Thanh Hoa Province
5. Decision on the recognition of doctoral candidate: Decision No. 408/QĐ-HVKHQS dated 25/09/2022, issued by the Director of the Military Science Academy.
6. Changes during the training process: The course was extended to 09/2026 following an approved application dated 12/08/2025.
7. Title of the thesis: Images in English and Vietnamese idioms denoting emotions: A contrastive study (Hình ảnh trong thành ngữ biểu thị cảm xúc tiếng Anh và tiếng Việt: Nghiên cứu đối chiếu)
8. Major: English Linguistics
9. Code: 9220201
10. Supervisor: Assoc. Prof. PhD. Nguyễn Thu Hạnh
11. Summary of the new contributions of the thesis
This thesis highlights the central role of conventional imagery in structuring and expressing emotional meaning in English and Vietnamese idioms across cultural contexts. Based on a systematically compiled corpus, the study analyses 164 English and 173 Vietnamese idioms of happiness, together with 127 English and 159 Vietnamese idioms of sadness. These idioms are classified into major image groups, including animals, body parts, facial and physical expressions, natural phenomena, food and drink, religion, social roles and figures, time, events, and other culturally embedded images.
The findings show that both English and Vietnamese employ rich, stable, and highly conventionalized systems of imagery to express happiness and sadness. In both languages, images related to the human body, facial expression, and natural phenomena account for the highest proportion, indicating that emotional meaning is closely connected to embodied experience and familiar aspects of daily life. Images involving the heart, face, or eyes, as well as natural elements such as light, rain, or storm, function as shared symbolic resources for representing emotional states.
At the same time, the study reveals clear cultural differences in image preference and symbolic orientation. English idioms tend to favour more abstract and socially institutionalized imagery, including references to religion, time, colour, and moral evaluation, reflecting an emphasis on individual emotion and inner psychological states. In contrast, Vietnamese idioms show a strong preference for concrete, embodied, and socially grounded images, closely associated with everyday life, community relations, family experience, and traditional moral values.
Importantly, the thesis identifies several key factors contributing to both the similarities and differences in idiomatic imagery between the two languages. Shared human experiences, bodily perception, and common emotional responses account for many similarities in image use. Meanwhile, differences are shaped by cultural values, social organization, historical background, belief systems, and patterns of daily life, which influence how emotions are perceived, evaluated, and symbolized in each linguistic community.
Overall, the findings confirm that idiomatic images function as conventionalized cultural signs rather than spontaneous metaphors. They reflect both universal aspects of human emotional experience and culture-specific ways of conceptualising emotion. The study contributes to idiom research from the perspective of conventional imagery and language-culture relations, and offers practical implications for foreign language teaching, translation, and intercultural communication.
12. Practical applications
The findings of the thesis may be applied to foreign language teaching and learning, particularly in the teaching of English and Vietnamese idioms from cognitive and cultural perspectives. The study also provides a scientific basis for translation and intercultural communication, assisting learners and translators in understanding symbolic meanings and cultural nuances of idioms, thereby enabling more accurate and effective use and translation of idiomatic expressions.
13. Further research directions
Future research may extend the investigation to idioms expressing other emotional states such as anger, fear, anxiety, or family-related emotions. In addition, contrastive studies of idiomatic imagery between Vietnamese and other languages, as well as research on imagery in other fixed expressions such as proverbs and set phrases, represent promising directions with theoretical and practical significance.
14. Publications related to the thesis
1. Nguyễn Công Minh (2025).Images in English and Vietnamese idioms of happiness and sadness: A cross-cultural perspective. Ngôn ngữ & Đời sống, 6b(369), 444-458
2. Nguyễn Công Minh (2025). Từ “trên chín tầng mây” đến “bừng sáng niềm vui”: phân tích biểu tượng hạnh phúc qua thành ngữ tiếng Anh. Ngôn ngữ & Đời sống, 8(371), 114-127


Tin cùng chuyên mục:
Cán bộ, học viên, sinh viên Học viện Khoa học Quân sự xem chương trình văn công chuyên nghiệp 6 tháng đầu năm 2026
Hoạt động ngoại khóa bổ ích của học viên quân sự nước ngoài và học viên Dự khóa tiếng Việt tại Ninh Bình
Xét duyệt đề tài cấp Bộ Tổng Tham mưu năm 2027 của cán bộ, giảng viên khoa Lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Học viện Khoa học Quân sự tuyên truyền hướng nghiệp tuyển sinh quân sự tại tỉnh Đồng Tháp